Thứ Hai, 23 / 4 / 2018 - 4:02 am

Bệnh Gút (phần 2): Diễn tiến, triệu chứng và biến chứng

>> Bệnh Gút (phần 1): Tại sao ngày càng gia tăng và khó điều trị
>> Bệnh Gút (phần 2): Diễn tiến, triệu chứng và biến chứng
>> Bệnh Gút (phần 3): Người bệnh Gút nên ăn uống như thế nào?
>> Bệnh Gút (phần 4): Các biện pháp điều trị và phòng ngừa bệnh Gút

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Bệnh Gút được biểu hiện đặc trưng bằng các cơn đau và sưng khớp cấp tính, tái diễn, gây ra bởi sự tăng cao nồng độ acid uric trong máu dẫn tới sự lắng đọng tinh thể muối urat ở màng hoạt dịch khớp, các mô quanh khớp và các mô khác. Sự lắng đọng tinh thể urat ở đâu sẽ gây tổn thương mô ở đó. Tùy từng giai đoạn tiến triển mà gây nên các bệnh cảnh lâm sàng đặc trưng của bệnh Gút.

1. Giai đoạn tăng acid uric máu đơn thuần không triệu chứng

Tăng acid uric máu đơn thuần thường bắt đầu ở trẻ nam, từ tuổi dậy thì, có thể kéo dài 20 – 40 năm mà không có triệu chứng gì cho đến khi xuất hiện cơn Gút cấp tính đầu tiên. Nhiều người được phát hiện có tăng acid uric khi đi khám sức khỏe định kỳ.

Không phải tất cả những người có tăng acid uric đều là bệnh nhân Gút. Tăng acid uric chỉ là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh Gút, chỉ có khoảng 30% số này sẽ trở thành bệnh nhân Gút, số còn lại có thể sống chung với trình trạng này trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, chỉ số acid uric càng cao, càng có nhiều nguy cơ trở thành bệnh Gút.

2. Giai đoạn viêm khớp Gút cấp

Ở giai đoạn này bệnh nhân bắt đầu có những cơn viêm khớp cấp kinh điển do Gút gọi là cơn Gút cấp. Các cơn viêm khớp này thường xuất hiện đột ngột, diễn biến rất nhanh. Bệnh nhân đi từ trạng thái bình thường đến lúc đau đỉnh điểm chỉ trong vòng vài giờ, thường là trong vòng một buổi. Cơn đau có cường độ rất dữ dội, thường xuất hiện vào nửa đêm gần sáng, làm bệnh nhân phải thức giấc. Khớp thường gặp nhất là khớp bàn ngón chân cái, kế đến là khớp ở bàn chân, cổ chân và khớp gối. Các khớp ở tay cũng có thể bị ảnh hưởng nhưng ít gặp hơn.

Trong cơn Gút cấp, bệnh nhân có thể bị sốt, lạnh run, khớp bị tổn thương sẽ có triệu chứng sưng, đau, nóng, đỏ tại khớp và thậm chí lan ra cả mô mềm xung quanh. Lúc đầu, cơn viêm khớp Gút cấp mặc dù rất dữ dội nhưng thường đáp ứng rất tốt với điều trị, chỉ vài liều thuốc kháng viêm giảm đau là có thể khống chế được bệnh, thậm chí cơn đau cấp tính có thể tự lui sau vài ngày, khiến cho người bệnh rất dễ chủ quan, tưởng rằng bệnh đã khỏi.

3. Giai đoạn yên lặng giữa các cơn viêm cấp

Đây là giai đoạn hoàn toàn yên lặng, khớp khỏi hoàn toàn. Khoảng cách giữa cơn đau đầu tiên và cơn thứ hai có thể từ vài tháng đến vài năm, thậm chí trên 10 năm. Người bệnh cho rằng bệnh đã khỏi, thậm chí không còn nhớ cơn đau khớp đầu tiên.

Tuy nhiên, bệnh sẽ tái lại sau một thời gian yên lặng và khoảng cách giữa các cơn viêm cấp ngày càng ngắn lại, các cơn viêm khớp cấp ngày càng kéo dài, ngày càng khó trị và không tự lui được nữa, các cơn viêm khớp cấp xảy ra liên tiếp, không khi nào dứt cơn và chuyển sang giai đoạn mạn tính.

4. Giai đoạn viêm khớp Gút mạn

Đặc trưng của giai đoạn này là sự lắng đọng các tinh thể urat (do acid uric không còn hòa tan trong máu) trong khớp và mô.

Sự lắng đọng các tinh thể urat có thể phát hiện trên lâm sàng dưới dạng các u cục còn gọi là Tophi ở quanh khớp và mô mềm, các nốt “hóa vôi” hoặc các sạn ở hệ niệu. Các hạt Tophi có kích thước thay đổi, từ vài mm cho tới 10-20cm, gây biến dạng khớp, mất chức năng khớp hoặc chèn ép vào các dây thần kinh gây liệt, có khi vỡ gây gây dò loét, bội nhiễm rất khó lành.

Sự lắng đọng các tinh thể urat còn ở các mô khác như nhu mô thận, hệ tim mạch hay hệ thần kinh… gây các biến chứng đa dạng ở các cơ quan này nhưng rất khó phát hiện.

Một số nghiên cứu mới đây cho thấy sự lắng đọng acid uric ở các mô xảy ra từ rất sớm, ngay từ giai đoạn tăng acid uric đơn thuần nhưng không phát hiện được trên lâm sàng.

Khi đã vào giai đoạn mạn tính, trình trạng sưng đau các khớp sẽ kéo dài và ngày càng nặng nề, ngoài ra bệnh nhân còn có thể bị tổn thương thận như sỏi thận, suy thận, tăng huyết áp, gia tăng các bệnh lý hệ tim mạch và thần kinh… làm cho việc điều trị ngày càng khó khăn và kém hiệu quả.

5. Các biến chứng của bệnh Gút

Thật ra, hiện nay bệnh Gút không khó chẩn đoán và đa số đáp ứng tốt với chế độ điều trị và dự phòng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh lý này ở các tuyến còn nhiều bất cập, gây nhiều hậu quả xấu cho sức khỏe người bệnh. Tình trạng lạm dụng thuốc kháng viêm chứa Corticosteroid làm cho bệnh diễn biến nặng hơn, phức tạp hơn, gây lệ thuộc thuốc, gây loãng xương do thuốc, gây suy thận do thuốc…; lạm dụng các thuốc kháng viêm khác gây suy thận, loét tiêu hóa…

Các biến chứng tại khớp và ngoài khớp của bệnh Gút làm gia tăng thêm gánh nặng cho xã hội.

a. Với viêm khớp Gút cấp

Các đợt viêm đau sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống lao động và sinh hoạt của người bệnh. Các cơn Gút cấp thường rất dữ dội, đột ngột vào nửa đêm, gây mất ngủ, căng thẳng, thay đổi tính tình, mất khả năng vận động, giảm sút sức khỏe và năng suất lao động.

Mặc khác, để chế ngự cơn đau này, người bệnh buộc phải dùng thuốc kháng viêm và giảm đau mạnh, chính các thuốc kháng viêm và giảm đau này cũng có thể gây cho người bệnh nhiều biến chứng tại đường tiêu hóa (dạ dày, ruột), suy thận, suy thượng thận, suy gan, suy tim, tăng huyết áp, thuyên tắc mạch máu, loãng xương, lệ thuộc thuốc…

Các biến chứng này sẽ đặc biệt nghiêm trọng và có thể đe dọa tính mạng khi người bệnh tự điều trị, không có sự theo dõi và tư vấn của thầy thuốc.

b. Với viêm khớp Gút mạn

Các tinh thể urat lắng đọng ở khớp gây viêm màng hoạt dịch kéo dài, phá hủy sụn khớp, tiêu hủy xương, dần dần sẽ gây hư hỏng cấu trúc của khớp, dẫn đến cứng khớp, mất khả năng vận động và có thể làm người bệnh trở nên tàn phế.

Các tinh thể lắng đọng ở mô mềm quanh các khớp (bàn tay, bàn chân, mắt cá chân, gót chân và ở vành tai…) được gọi là hạt Tophi. Tophi có thể không gây đau, nhưng thường to dần, sưng tấy khi có trình trạng viêm cấp, gây tổn thương các mô xung quanh (ăn mòn vào xương, gây viêm các gân, chèn ép thần kinh và mạch máu gây các bệnh lý mạch máu và thần kinh ngoại biện, nhiều trường hợp Tophi bị dò loét và vỡ ra ngoài, rất khó liền, dễ bội nhiễm, nhiễm trùng nặng, có trường hợp đã phải đoạn chi để cứu tính mạng.

Tinh thể urat lắng đọng ở nhu mô thận và ống thận gây viêm thận kẻ, tổn thương nhu mô thận, có thể tạo thành sỏi thận và hệ niệu, lâu dần dẫn đến suy thận. Suy thận diễn ra rất âm thầm mà bệnh nhân có thể không hay biết cho đến khi suy thận giai đoạn cuối thì việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn, tăng nguy cơ tử vong.

Tinh thể urat lắng đọng ở tim có thể gây viêm nội tâm mạc, viêm cơ tim, tổn thương van tim. Ngoài ra, nó còn có thể lắng đọng ở những mảng xơ vữa trong lòng mạch gây tắc mạch, nhất là mạch vành thì gây tai biến nghiêm trọng.

Sự lắng đọng tinh thể urat ở mắt gây đục tinh thể và hội chứng khô mắt; ở mô não và hệ thần kinh, mô phổi… thì gây các bệnh cảnh phức tạp cho bệnh nhân Gút.

Mặc dù bệnh Gút gây nhiều biến chứng nguy hiểm như vậy nhưng nếu được chẩn đoán sớm và điều trị hợp lý bao gồm chế độ thuốc, chế độ ăn uống sinh hoạt và tập luyện hợp lý thì đa số các bệnh nhân Gút có thể có một cuộc sống bình thường.

6. Bệnh Gút làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch

Hình ảnh một bệnh nhân nam giới bị bệnh Gút có kèm béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, có bệnh tim không phải là hiếm gặp. Các bác sĩ nhận thấy ở bệnh nhân viêm khớp Gút có sự gia tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh lý về tim mạch, cụ thể như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, thậm chí là tử vong do nguyên nhân tim mạch.

Có nhiều giả thuyết được đặt ra để giải thích mối liên quan giữa bệnh Gút và các nguy cơ tim mạch như sau:

a. Tăng acid uric máu làm tăng nguy cơ tăng huyết áp

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có gia tăng nồng độ acid uric máu sẽ bị bệnh tăng huyết áp trong vòng 5 năm. Người ta nhận thấy nồng độ acid uric càng cao thì người bệnh càng dễ bị tăng huyết áp và mức huyết áp của bệnh nhân cũng càng cao.

b. Tăng acid uric và bệnh thận

Có đến hơn 50% bệnh nhân bị Gút có tổn thương thận. Các tổn thương này có thể là sỏi thận hoặc tổn thương các cầu thận (các đơn vị chức năng lọc của thận). Một khi thận bị tổn thương sẽ kéo theo một loạt các phản ứng mà hậu quả cuối cùng của nó làm suy thận, tăng huyết áp và gia tăng nguy cơ tim mạch.

7. Bệnh Gút là một thành phần của “Hội chứng chuyển hóa”

Gần đây người ta hay nhắc đến khái niệm “Hội chứng chuyển hóa”. Hội chứng này bao gồm nhiều triệu chứng như tăng huyết áp, béo phì vòng bụng, rối loạn Lipid máu, rối loạn chuyển hóa đường huyết. Hậu quả của hội chứng này chính là sự gia tăng nguy cơ tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, đái tháo đường.

Bệnh Gút không phải chỉ là hậu quả của tăng acid uric máu, mà còn là một tập hợp nhiều rối loạn chuyển hóa trong cơ thể. Do đó, bệnh Gút cũng là một phần của hội chứng chuyển hóa và bệnh nhân bị bệnh Gút cũng gia tăng nguy cơ tim mạch.

8. Làm gì để phòng tránh nguy cơ tim mạch?

Sai lầm thường gặp của đa phần bệnh nhân bị bệnh Gút là không thích đến bác sĩ mà có khuynh hướng tự sử dụng thuốc kháng viêm và giảm đau. Hai loại thuốc thường dùng nhất chính là các thuốc nhóm kháng viêm không Steriod và các thuốc Corticosteroid. Hai nhóm thuốc này đều làm gia tăng nguy cơ tăng huyết áp và các biến cố tim mạch. Đặc biệt, nhóm Corticosteroid làm gia tăng sự xuất hiện của đái tháo đường, rối loạn Lipid máu, loãng xương, đục tinh thể…Chính do các điều trị không đúng mà bệnh nhân dễ “mua” thêm bệnh vào người.

Do đó, để phòng ngừa các biến cố tim mạch, trước tiên bệnh nhân Gút cần phải nhận thức rõ rằng việc điều trị bệnh Gút không phải chỉ là điều trị giảm đau. Mặc dù khi bị Gút, ngoài cơn đau, người bệnh sẽ không thấy biểu hiện gì khác nhưng thật ra tổn thương bên trong vẫn cứ âm thâm diễn tiến. Mục đích chính của việc điều trị là giảm nồng độ acid uric máu, điều này không chỉ có ý nghĩa kiểm soát bệnh, phòng ngừa tái diễn cơn viêm khớp cấp mà còn làm giảm được nguy cơ tim mạch, nguy cơ suy thận…

Kế đến, người bệnh cần ý thức được rằng nguy cơ tim mạch của mình cao hơn người bình thường, do đó cần có chế độ ăn cũng như sinh hoạt, tập luyện tốt, hạn chế các chất dầu mỡ, thức ăn giàu đạm như các loại hải sản (tôm, cua, mực…), thịt đỏ, nội tạng động vật, ăn lạt, không hút thuốc lá, bỏ rượu bia.

Cuối cùng, cần đi khám định kỳ theo hẹn và kiểm tra nguy cơ tim mạch theo chỉ định của bác sĩ.

Còn tiếp >>

Nguồn: Tạp chí “Bác Sĩ Gia Đình” Số 167 (05/07/2015).

Ý kiến bạn đọc ( 0 )

Mới nhất

|

Quan tâm nhất

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

XEM THÊM
Hôm nay: 0
Trong tháng: 4003
Tất cả: 1741370