Thứ Năm, 18 / 1 / 2018 - 4:49 pm

Glucosamine phần 2: Ứng dụng trên lâm sàng của Glucosamine

>> Glucosamine phần 1: Thành phần và tác dụng của Glucosamine
>> Glucosamine phần 2: Ứng dụng trên lâm sàng của Glucosamine
>> Glucosamine phần 3: Glucosamine 10 điều bạn nên biết

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Trong các khớp bị viêm, lớp mô sợi của bao khớp và màng hoạt dịch làm giảm sự khuếch tán Glucose vào mô sụn. Hơn nữa, hiện tượng viêm trong khớp đã tiêu thụ lượng Glucose có giới hạn của cơ thể. Chính vì thế có sự thiếu hụt Glucosamine.

Lúc này, Glucosamine Sulfate ngoại sinh là nguồn cung cấp tốt nhất cho sự tổng hợp các Proteoglycan. Người ta thấy Glucosamine Sulfate có ái lực đặc biệt với các mô sụn. Nó còn giúp ức chế các men sinh học như Stromelysin và Collagenase gây phá hủy sụn khớp.

Trong thực nghiệm trên thỏ con, người ta thấy Glucosamine Sulfate chỉ làm tăng thành phần các Proteoglycan trong các vị trí mô sụn hư cần phải sửa chữa mà không có tác dụng tương tự trên phần sụn khớp bình thường.

1. Điều trị viêm khớp

Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp viêm cho người bệnh.

Tuy nhiên những thuốc này chỉ chữa triệu chứng chứ không trị nguyên nhân bệnh sinh. Mặt trái của nhóm thuốc này là vừa chống viêm giảm đau, vừa gây tổn hại niêm mạc dạ dày – tá tràng. Bởi nó ức chế cả hai chất sinh học COX-1 và COX-2 (COX là chữ viết tắt của Enzym Cyclooxygenase), COX-1 bảo vệ niêm mạc, còn COX-2 liên quan đến phản ứng viêm.

Glucosamine sulfat là một dẫn chất của Aminomonosaccharid là thành phần chính của Proteoglycan, một trong 3 thành phần (proteoglycan, collagen, tế bào sụn) cùng với nước cấu tạo nên sụn khớp.

Glucosamine sulfat có ái lực đặc biệt với mô sụn, kích thích tế bào sụn sản xuất Proteoglycan, Collagen là những chất căn bản của sụn khớp. Cung cấp dinh dưỡng cho sụn, giúp tạo dịch khớp (dịch này có tác dụng nuôi dưỡng sụn khớp) và tái tạo sụn khớp.

Mặt khác, Glucosamine sulfat còn ức chế một số enzym gây phá hủy sụn khớp, giảm các gốc tự do gây tác hại đến tế bào sinh sụn. Ngoài ra, loại thuốc này còn kích thích sinh sản mô liên kết của xương giảm triệu chứng mất canxi của xương, làm tăng sản sinh chất nhày ở dịch khớp (tăng khả năng bôi trơn), giảm hiện tượng thoái hóa khớp.

Do vậy, Glucosamine sulfat có tác dụng điều trị tận gốc, chứ không chỉ điều trị triệu chứng. Tuy nhiên, Glucosamine sulfat không có được tác dụng giảm đau ngay như các NSAID (các loại thuốc kháng viêm không Steroid), mà chỉ bắt đầu sau một tuần, bởi vậy nếu đau nhiều vẫn phải dùng thuốc NSAID trong những ngày đầu. Đa số người bệnh thoái hóa khớp đạt được những cải thiện rõ rệt sau 2 – 8 tuần dùng thuốc.

Ưu điểm lớn nhất ghi nhận được đến nay là có rất ít tác dụng phụ khi sử dụng Glucosamine Sulfate. Một vài trường hợp dị ứng không đáng kể, đối với người có cơ địa quá mẫn cảm với thuốc.

Trước đây Glucosamine được xếp vào nhóm thuốc bảo vệ sụn (gồm có Glucosamine Sulfate, Chondroitin Sulfate và Diacerin) hay thuốc tác dụng chậm với các bệnh viêm khớp. Hiện nay nó được cơ quan Dược Phẩm Châu Âu (EMEA) chấp nhận xét vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp. Các loại khác chưa được chấp nhận vì không đáp ứng được các yêu cầu thực nghiệm lâm sàng.

Ðã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm so sánh với các loại thuốc kháng viêm không Steroid (NSAID), cho kết quả như sau:

– Cải thiện triệu chứng viêm khớp như đau, tầm độ khớp tương đương với NSAID trong thời gian ngắn và càng vượt trội hẳn nếu uống thuốc thời gian càng dài.

– Tính an toàn hơn hẳn với các loại NSAID luôn luôn có rất nhiều tác dụng phụ kèm theo.

– Người ta dùng phối hợp Glucosamine và NSAID cho kết quả tốt hơn khi dùng đơn độc NSAID trong thời gian ngắn. Sau đó ngưng NSAID, tiếp tục sử dụng Glucosamine thì tình trạng cải thiện vẫn tiếp tục được duy trì theo kiểu tuyến tính.

– Người ta thấy dùng NSAID, những ích lợi giảm triệu chứng cho bệnh nhân sẽ nhanh chóng mất đi ngay sau khi ngưng thuốc. Ngược lại, ngưng uống Glucosamine tác dụng vẫn tiếp tục kéo dài trong nhiều tháng sau đó.

– Với những bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị dùng Glucosamine càng dài thì lợi ích kinh tế càng lớn vì tính an toàn và hiệu quả của nó càng được phát huy.

2. Các đối tượng nào nên dùng Glucosamine?

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

– Người mắc bệnh viêm khớp, xương khớp, thấp khớp.

– Người bị chấn thương ảnh hưởng đến xương vùng tay và chân.

– Viêm hoạt dịch, viêm gân, đau và nhức xương khớp.

– Người bị thoái hóa khớp.

 3. Liều lượng và cách sử dụng

Liều khuyến cáo là 1.500 mg mỗi ngày, dùng liên tục hay có chu kỳ trong một năm.

Tác dụng giảm đau thường có sau khoảng 10 ngày dùng thuốc. Vì thế người ta có khuynh hướng kết hợp với NSAID(thuốc kháng viêm không Steroid) trong tuần lễ đầu tiên. Sau đó ngưng NSAID và tiếp tục sử dụng Glucosamine Sulfate.

Sự phối hợp Glucosamine  với Chondroitin Sulfate, chưa có thử nghiệm nào cho thấy cho kết quả tốt hơn sử dụng đơn độc Glucosamine. Hơn nữa người ta khó đảm bảo được chất lượng của Chondroitin do quá trình sản xuất chưa được chuẩn hóa.

(Còn tiếp).
Nguồn: Tổng hợp từ Internet.

<< Xem bài trước     Xem bài tiếp theo >>

Ý kiến bạn đọc ( 0 )

Mới nhất

|

Quan tâm nhất

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

XEM THÊM
Hôm nay: 86
Trong tháng: 2940
Tất cả: 1582755