Thứ Hai, 18 / 12 / 2017 - 1:44 pm

Nattokinase là gì?

>> Nattokinase là gì?
>> Lợi ích và cơ chế hoạt động của Nattokinase

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Trong thời gian gần đây, chúng ta nghe nhắc nhiều đến Nattokinase với nhiều tác dụng khác nhau, đặc biệt có thể mang tới cho chúng ta một sức khỏe tốt hơn, nâng cao chất lượng sống của con người. Vậy nattokinase là gì?

Nattokinase là một enzyme được tìm thấy trong loại đậu lên men “Natto” (món ăn truyền thống của người Nhật). Nattokinase có tác dụng làm tan cục máu đông, vốn là nguy cơ gây tắc mạch máu dẫn đến tai biến, đột quỵ.

1. “Natto” là gì ?

“Natto” là những hạt đậu nành đã luộc chín được ủ với enzyme (Bacillus natto) ở môi trường 40°C trong vòng 14-18 giờ để lên men thành những hạt đậu có màu nâu, độ nhờn nhớt cao và bền (chứa nhiều Acid Glutamic), có mùi nồng nặc (của nước tiểu) rất khó chịu với người không quen. Theo kinh nghiệm của nhà sản xuất cho biết khi độ nhớt càng cao thì chất lượng Natto càng tốt và vị càng ngọt. Là một món ăn dân dã rất phổ biến ở nông thôn Nhật bản, họ thường ăn cơm sáng với Natto, nước tương với rong biển phơi khô và trứng gà sống.

Natto là một đặc sản thiên nhiên, nguồn cung cấp enzyme Nattokinase.

Natto là một đặc sản thiên nhiên, nguồn cung cấp enzyme Nattokinase.

Natto là một đặc sản thiên nhiên, không qua chế biến (xào, hấp …). Vì vậy những tố chất bổ dưỡng cho sức khỏe đều được giữ nguyên vẹn trong đó enzyme Nattokinase là một hoạt chất sản sinh trong quá trình lên men tự nhiên được xem là hoạt chất có hiệu quả trong việc ngăn ngừa các chứng bệnh tim mạch (một phát hiện vô cùng lý thú bởi nhà nghiên cứu sinh lý học Nhật bản nổi tiếng, GS Sumi Hiroyuki vào năm 1980.)

2. Thủ phạm gây tai biến

Quá trình đông máu là sự tương tác và chuyển hóa phức tạp của các tế bào, protein và các hormon tại chỗ. Rối loạn đông máu và ngưng kết tiểu cầu làm tăng nguy cơ huyết khối và các biến cố tắc mạch, tái tắc mạch sau điều trị tái thông mạch vành.

Đầu tiên thành mạch vành bị tổn thương giải phóng Thromboxan kích thích kết tập tiểu cầu. Sự hình thành “nút” tiểu cầu là giai đoạn đầu tiên trong hai giai đoạn riêng biệt của quá trình hình thành cục máu đông và có lẽ là giai đoạn chủ yếu làm ngưng chảy máu.

Giai đoạn hai bao gồm một chuỗi phản ứng phối hợp sản sinh Thrombin. Thrombin xúc tác chuyển Fibrinogen thành Fibrin. Các tế bào hồng cầu, dính vào lưới sợi Fibrin cuối cùng hình thành cục máu đông thực sự.

Nói chung, huyết khối tĩnh mạch gồm có sợi Fibrin và các tế bào hồng cầu. Trong khi huyết khối động mạch được hình thành từ sự kết tập tiểu cầu. Vì vậy, các thuốc chống kết tập tiểu cầu được dùng để ngăn ngừa huyết khối động mạch, còn các thuốc chống đông được sử dụng để ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch.

Aspirin là chất chống tiểu cầu (huyết khối ở động mạch) hữu hiệu. Tuy nhiên, có nhiều phản ứng không mong muốn như làm loãng máu, xuất huyết nội mạc bao tử…nếu dùng trong một thời gian dài. Vì vậy Bác sĩ chuyên khoa thường cho bệnh nhân uống Aspirin liều thấp (81 mg) để ngừa bệnh huyết khối tích tụ trong mạch máu, tăng cường lưu thông máu huyết cho những người có huyết áp cao. Đối với người không dung nạp được Aspirin thì thay bằng Clopidogel. Kết quả làm giảm tỷ lệ tử vong, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…tương tự như Aspirin.

Các tác dụng phụ chủ yếu của các thuốc làm tan huyết khối là chảy máu, dị ứng (như Streptokinase làm tụt huyết áp, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim tái phát) và đau thắt ngực. Đối với thuốc chống tiểu cầu, cả Aspirin và Ticlopidin đều gây nhiễm độc máu nhưng giảm bạch cầu trung tính là mối lo ngại lớn nhất khi dùng Ticlopidin.

Bệnh động mạch vành dùng để chỉ tình trạng bệnh lý khi động mạch bị hẹp lại hoặc tắc nghẽn. Trình trạng hẹp hay tắc nghẽn lòng động mạch là do xơ vữa động mạch. Khi lòng động mạch vành bị hẹp lại đến một mức độ nào đó thì dòng máu đến để nuôi tim sẽ không đủ, dẫn đến tình trạng thiếu máu cơ tim.

Động mạch vành bị hẹp lại hoặc tắc nghẽn.

Động mạch vành bị hẹp lại hoặc tắc nghẽn.

Hầu hết các trường hợp bệnh động mạch vành là do xơ vữa động mạch gây nên. Nguyên nhân bệnh lý thì chưa rõ vì vậy người ta dùng khái niệm là yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành: huyết áp cao, rối loạn lipid máu (LDL cao, HDL thấp, Triglyceride cao).

Hẹp lòng động mạch vành sẽ gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim, bệnh nhân bị đau ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim cấp. Khi mảng xơ vữa động mạch trong lòng động mạch vành vỡ ra thì sẽ làm bít tắc hoàn toàn động mạch vành và gây ra thiếu máu cơ tim trầm trọng cấp tính, hoại tử cơ tim (còn được gọi là nhồi máu cơ tim cấp và tỷ lệ đưa đến tử vong rất cao).

Chương trình điều tra của Đại học Harvard vào năm 1989 trên 20,000 Bác sĩ Hoa kỳ, kết luận rằng với 1 viên Aspirin liều thấp có thể giảm bệnh tim mạch đến 44% nhờ tác dụng làm loãng máu (tan vón máu trong động mạch) vì vậy thuốc trị nhức đầu như Aspirin 81, Clopidogel hay Plavix (hỗn hợp giữa Aspirin và Clopidogel giá rất đắt, gấp nhiều lần)… đều được sử dụng cho người có nguy cơ tim mạch hay huyết áp cao, trước khi can thiệp bằng cách bằng cách nông mạch vành qua da hay phẫu thuật bắt cầu mạch vành (by-pass), đặt Stent.

Tai biến mạch máu não, khởi phát rất nhanh, và đột ngột, nếu không được xử lý nhanh có thể dẫn đến tử vong.

Tai biến mạch máu não, khởi phát rất nhanh, và đột ngột, nếu không được xử lý nhanh có thể dẫn đến tử vong.

Đột quỵ dạng nhũn não xảy ra khi xuất hiện huyết khối gây xơ vữa động mạch dẫn máu lên não. Nếu nhẹ có thể bị tê liệt nửa người, trường hợp nặng, bệnh nhân có thể ngưng thở và tử vong. Căn bệnh này còn được gọi là tai biến mạch máu não, nguy hiểm thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư. Bệnh khởi phát rất nhanh, và đột ngột, nếu không được xử lý nhanh có thể dẫn đến tử vong.

>> Lợi ích và cơ chế hoạt động của Nattokinase

Nguồn: Tổng hợp internet.

Ý kiến bạn đọc ( 0 )

Mới nhất

|

Quan tâm nhất

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

XEM THÊM
Hôm nay: 59
Trong tháng: 2937
Tất cả: 1545306