Thứ Hai, 25 / 6 / 2018 - 6:49 pm

Viêm khớp dạng thấp

>> Viêm khớp dạng thấp
>> Viêm xương khớp
>> Bệnh Gút(Gout)
>> Điều trị viêm khớp dạng thấp bằng liệu pháp tự nhiên

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

1. Viêm khớp dạng thấp là gì?

Viêm khớp dạng thấp(VKDT) là tình trạng một hay nhiều khớp bị sưng đau lúc thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại. Bệnh xuất hiện trên những người bị viêm họng cấp hoặc mãn do chủng vi khuẩn liên cầu tan huyết nhóm A gây nên.

Lúc cấp tính, tại vùng khớp bị sưng, nóng đỏ, đau nhưng khi đã thành mạn thì các dấu hiệu này không rõ ràng, chỉ thấy sưng, đau hoặc mỏi ở những khớp đa viêm nhiễm và di chuyển nhiều lần.

Là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh khớp. Ở Việt Nam tỉ lệ mắc bệnh là 0,5% trong nhân dân và 20% số bệnh khớp nằm điều trị tại bệnh viện.

Bệnh gặp ở mọi nơi trên thế giới, chiếm 0,5% – 3% dân số ở người lớn. 70 – 80% là nữ giới và 60 – 70% có tuổi trên 30.

2. Nguyên nhân

Viêm khớp dạng thấp(VKDT) là một bệnh tự miễn  hay còn gọi là bệnh hệ thống, do cơ thể người bệnh tự sinh ra kháng thể, các kháng thể này chúng nhận diện sai dịch mô (ở đây là dịch khớp) là các tác nhân nên chúng đi vào phá hủy dịch khớp ở tất cả các ổ khớp, chính vì vậy theo thời gian nếu không được chữa trị kịp thời thì tất cả các khớp trên cơ thể đều bị viêm và thoái hóa hết.

– Tác nhân gây bệnh: có thể là virus, vi khuẩn, dị nguyên nhưng chưa được xác định chắc chắn.

– Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính (70-80% bệnh nhân là nữ) và tuổi (60-70% gặp ở người trên 30 tuổi).

– Yếu tố di truyền: VKDT có tính gia đình, có liên quan với tổ chức HLA DR4 ( 60-70% bệnh nhân có yếu tố này, trong khi tỷ lệ này ở cộng đồng chỉ là 30%).

– Các yếu tố thuận lợi khác: môi trường sống ẩm thấp, cơ thể suy yếu mệt mỏi, nhiễm lạnh, phẫu thuật.     

3. Cơ chế sinh bệnh

Lúc đầu tác nhân gây bệnh tác động như kháng nguyên(đến giờ vẫn chưa biết là kháng nguyên gì) gây bành trướng, dòng tế bào T được kháng nguyên kích thích trên những cơ thể cảm nhiễm di truyền trong giai đoạn đầu của bệnh.

Một tiểu nhóm tế bào T hoạt hoá trong màng hoạt dịch đã sản xuất nhiều Cytokine khác nhau bao gồm: Interferon γ (IFN-γ), Interleukin 2 (IL2), IL6 và yếu tố hoại tử u (TNF -α) gây viêm màng hoạt dịch kéo dài (đặc trưng của viêm khớp dạng thấp), kích thích thêm các tế bào khác trong màng hoạt dịch (bạch cầu đơn nhân, tế bào B, tế bào màng hoạt dịch giống nguyên bào sợi) bằng Cytokine hoặc tiếp xúc trực tiếp với tế bào T hoạt hoá, sẽ dẫn đến giai đoạn bệnh thứ hai phá hủy nhiều hơn.

Các bạch cầu đơn nhân hoạt hoá và tế bào màng hoạt dịch giống nguyên bào sợi không chỉ sản xuất các Cytokine tiền viêm khác nhau (đặc biệt là IL.1 và TNF -α) và các yếu tố tăng trưởng có thể làm phức tạp thêm tình trạng viêm, mà còn kích thích sự sản xuất các Metalloproteinase của chất nền và các protease khác.

Chính những tác nhân này làm trung gian phá hủy chất nền của mô khớp đặc trưng của giai đoạn phá huỷ trong viêm khớp dạng thấp.

4. Triệu chứng lâm sàng

a. Cứng khớp: làm hạn chế sự vận động của các khớp, xuất hiện vào buổi sáng sau khi ngủ dậy, thường kéo dài trên 1 giờ trước khi cảm thấy các khớp mềm ra.

b.Sưng khớp: có thể có tụ dịch nhiều hoặc chỉ sưng phù lên.

c. Nóng: vùng da của khớp viêm có thể ấm hơn vùng da xung quanh.

d. Đỏ: da vùng khớp viêm có thể có màu hồng nhạt, đỏ hơn so với vùng da xung quanh.

e. Đau: Hiện tượng viêm làm cho các khớp trở nên nhạy cảm hơn, căng hơn, từ đó gây ra đau các khớp bị viêm.

f. Các triệu chứng toàn thân
– Mệt mỏi.
– Trì trệ, suy nhược.
– Chán ăn, có thể dẫn đến sự sụt kí.
– Đau nhức mỏi cơ toàn thân.

g. Các triệu chứng ở các cơ quan khác
– “Nốt thấp”, có thể sờ thấy dưới da, thường ở khớp khuỷu, đôi khi rất đau.
– Người bệnh có thể bị viêm màng phổi không triệu chứng, nhưng khi mà nhịp thở ngắn lại là lúc cần phải điều trị.
– Có thể ảnh hưởng lên thanh quản gây khàn giọng.
– Người bệnh có thể bị viêm màng ngoài tim, thường không có triệu chứng nhưng khi có triệu chứng thường là nhịp thở ngắn lại hoặc đau ngực. Người bệnh viêm khớp dạng thấp dễ bị tắc nghẽn động mạch tim, gây đau ngực hoặc nhồi máu cơ tim.
– Khoảng dưới 5% số người bệnh viêm khớp dạng thấp có triệu chứng ở mắt, bao gồm mắt đỏ, đau mắt hoặc khô mắt.

5. Cách chẩn đoán

Trong giai đoạn đầu, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp rất khó khăn. Các thầy thuốc thường phải dựa vào 7 yếu tố sau để chẩn đoán bệnh này:

(1). Cứng các khớp và xung quanh khớp kéo dài ít nhất 1 giờ vào buổi sáng sau khi ngủ dậy.

(2). Tự nhiên (không do chấn thương) bị sưng khớp hoặc tụ dịch khớp của ít nhất 3 khớp.

(3). Ít nhất có một khớp nhỏ bị sưng (khớp cổ tay, khớp bàn hoặc khớp ngón tay).

(4). Biểu hiện của viêm các khớp đối xứng trên cơ thể.

(5). Có “nốt thấp”, là các cục sờ thấy dưới da, nằm ở vị trí chịu lực của cơ thể (thường là ở khớp khuỷu).

(6). Chỉ số yếu tố thấp (RF), cao bất thường khi làm xét nghiệm.

(7). Sự thay đổi biến dạng khớp thấy được trên XQuang tại những khớp bị viêm.

– Đây là các yếu tố đặc trưng của giai đoạn muộn trong bệnh viêm khớp dạng thấp.

– Khi có ít nhất 4 trong 7 yếu tố trên, và yếu tố xuất hiện đầu tiên đã lâu trên 6 tuần thì người bệnh được coi là bị bệnh viêm khớp dạng thấp.

Nguồn: Tổng hợp từ Internet.

 

 

Ý kiến bạn đọc ( 0 )

Mới nhất

|

Quan tâm nhất

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

XEM THÊM
Hôm nay: 86
Trong tháng: 3443
Tất cả: 1853013